Nghĩ về Đúng Sai

1. Trong cuộc đời này, luận về Đúng-Sai luôn là khó. Thường việc này không dành cho kẻ cảm tính. Cái Đúng đôi khi chẳng thuộc về đám đông như một điều hiển nhiên, và càng không chắc thuộc về những kẻ một mình đi ngược chiều.

Trên phương diện Triết học, cái Đúng thường gần với cái gọi là Chân lý, thuộc về Khách quan. Đó là những quy luật, theo nhiều trường phái, của khách thể không phụ thuộc vào mong muốn của con người. Hãy khoan giải bài toán: Thế nào là quy luật khách quan? Bởi quả thực, đó là bài toán của cả loài người. Trong khoa học, Đúng là những điều phù hợp với sự thực chứng. Đơn giản là vậy! Còn trong Tôn giáo, cái Đúng là những điều thuộc lời răn, khải huyền của những Đáng sáng thế.

Vậy tại sao, rất nhiều người lại sẵn sàng chấp nhận như một điều hiển nhiên: Lời nói của Chúa, của Phật….lại là những điều hiển nhiên đúng. Vì rằng, cả đời họ được dành để thực hành những điều mình nói như một tấm gương. Cuộc đời họ, đức hạnh đi đôi với lời thuyết giảng. Không có một chân lý nào nằm ngoài thực tại được thể hiện trong đời sống tu hành. Nhân sinh nhìn vào họ như là tấm gương để soi chiếu lại mình, như là ngọn hải đăng mồi khi tâm hồn họ lênh đênh lạc giữa cuộc đời ô nhục.

2. Trong nhiều sách giảng dạy về triết học, người ta thường đưa ra một ví dụ kinh điển luận về Đúng-Sai như sau:

Có một đoàn tàu đang chạy rất nhanh trên đường ray. Rồi bỗng phía ngã 3 trước mặt, có một đường ray bị hỏng. Đường ray an toàn còn lại đang có một người sửa chữa. Câu hỏi đặt ra là:

– Người lái tàu sẽ đâm người thợ kia để cứu những người trên tàu, hay là bỏ mặc những hành khách lao về phía đường ra hỏng và chết?

Quả thực, nếu xét kỹ càng, đây là một bài toán “ăn gian”.Trong lịch sử, chẳng có bài toán nào có lời giả rốt ráo về việc, cá nhân phải hy sinh cho đám đông mới là đúng.

Chuyện một dân tộc phải hy sinh nhiều người cho một cá nhân không hiếm. Nhưng cũng có những người chấp nhận hy sinh để cứu rất nhiều người, và họ được ca ngợi như những người anh hùng. Nhưng đó là những chuyện không thể quy thành những điều để áp dụng như là những cơ sở cho hành xử đạo đức.

Hãy tham khảo một quan điểm khoa học về nguồn gốc của hành vi: Các hành vi của sinh vật có thể bị điều khiển bởi một vòng trong hồi tiếp. Một chuỗi những thông điệp đi rtwf các giác quan tới các lược đồ của não rồi quay trở lại các giác quan. Và cứ thế tiếp tục cho đến khi các lược đồ “hài lòng” và tìm ra được một hành vi phù hợp.

Nghĩa là, con người càng có nhiều kinh nghiệm, càng có nhiều mô hình được kiểm nghiệm thì sẽ đưa ra được quyết định “chuẩn xác”. Đây là bài toán của việc xác định cơ chế ra quyết định, chứ không phải là phân biệt Đúng-Sai.

Cái Đúng hay Sai thường được xét nhiều trên phạm trù đạo đức. Nó cần thời gian đối sánh và phán xét dựa trên sự phù hợp với các quan điểm xã hội. Nó là việc được tiến hành sau mỗi hành động xảy ra, chứ không thể đo lường được ở thời “hiện tại tiếp diễn” của mỗi sự kiện.

Vậy thì, ta thu được điều gì từ câu chuyện trên? – Câu trả lời là: Tinh thần trách nhiệm.

Mỗi con người cần phải chịu trách nhiệm với hành động của mình. Anh ta có thể là Anh hùng trong mắt người này, nhưng lại là Tội đồ trên quan điểm của kẻ khác.

3. Trong Phật giáo có một quan điểm khá hay về nhân quả. Chiếu theo câu chuyện trên, nếu người lái tàu đâm chết người thợ để cứu sống hành khác, anh được hưởng phúc cho việc cứu vớt những sinh mạng ấy. Nhưng đồng thời, anh cũng phải chịu “quả báo” cho hành động giết người thợ kia.

Tất nhiên, đó cũng chỉ là một quan điểm mà thôi. Bởi xét đến cùng, việc luận Đúng-Sai chỉ là một “trò chơi” của trí não, hay là “luật chơi” của những đám người.

Vì rằng, Đúng hay Sai thì thời gian cũng chẳng bao giờ chờ đợi ai. Có hành động hay nhắm mắt buông xuôi thì thời gian vẫn cứ trôi đi.

Đúng-Sai chỉ là cách hiểu của trường phái Nhị nguyên luận.

Thinh Ker

Posted in Phiếm đàm | Leave a comment

Tiến bộ hay đơn giản chỉ là cái lạ?

Con người đã trải qua một thời kỳ tiến hóa, từ động vật trở thành con người hoang dã, và từ con người hoang dã đi đến con người văn minh. Toàn bộ tiến trình ấy gắn liền với thời gian.

Với sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật, con người từ chuyện lo miếng cơm manh áo đã đạt tới một mức sống đầy đủ, và như ngày nay là hiện đại, “làm chủ” tự nhiên. Cố nhiên, không thể phủ nhận mà coi rằng, đó không phải là những thành tựu vĩ đại. Bởi bản chất con người luôn muốn sung sướng hơn, sung túc hơn. Thật thì, chẳng thể nào mà ngồi nghĩ đến vũ trụ trong khi cái dạ dày lại trống rỗng. Với đời sống của con người, khoa học có vai trò to lớn đến thế. Vào những năm 80 của thế kỷ 19, tuổi thọ trung bình của một số nước Châu Âu rơi vào khoảng 30 tuổi. Và thử hình dung xem, với tuổi đời ngắn thế, liệu có những kế hoạch mang tính dài hạn không? Và nền y học nói riêng và khoa học nói chung đã mang lại cho chúng ta nhiều thời gian hơn để theo đuổi những kế hoạch lâu dài.

Một trong những đặc tính của khoa học là cái mới thường phủ nhận cái cũ. Và đến nay, cái mới luôn đem lại nhiều “thứ” hơn. Ở một chừng mực nào đó, cái mới thường hợp với quy luật hơn, khách quan hơn.

Những gì khoa học đem lại đã mang đến cho con người thêm rất nhiều công cụ, quyền uy. Các thế lực tôn giáo, mang màu sắc siêu nhiên ngày càng bị phơi bày ra ánh sáng, ngày càng trở nên phi thực. Con người giờ chỉ còn tin vào mình, và xem khoa học như là ngọn đuốc để soi đường. Cái gì không thực chứng được, thường bị gạt bỏ ra ngoài lề văn minh.

Để thành công hơn, cái Tôi phải lớn hơn. Và để thành công hơn nữa, con người còn phải vượt lên cả chính cái Tôi của mình nữa. Con người đặt giá cao nhất cho những gì được gọi là “mới lạ”. Muốn thành công, người ta phải nhận được, trước hết, một lời khen ngợi kiểu như “đây là một ý tưởng mới”.

Ngay cả trong lĩnh vực nghệ thuật, người ta cũng buộc phải “đổi mới” để tồn tại. Những bức tranh theo một trường phái cũ có thể bị phê bình là nhàm chán, thiếu ý tưởng sáng tạo. Một tác phẩm văn chương ca ngợi những hình mẫu cổ xưa có thể bị xem là không hợp thời, đi theo lối mòn, thiếu cái tôi. Những chân lý cổ xưa dường như ngày càng bị lãng quên. Một cuộc đua tranh khốc liệt nhằm khai phá lấy một con đường chưa ai đặt chân tới ngày càng trở nên khốc liệt. Những cái mới thậm chí còn không có nền tảng vững chắc dựa trên những cái cũ. Sự tiếp nối không vững, sợ dây liên kết lỏng lẻo. Và nó tạo ra những trào lưu nhất thời, cuốn tâm hồn con người vào những cơn bão.

Không thể phủ nhận mặt tích cực, là những trào lưu luôn kích thích con người hướng đến sự đa dạng, mới mẻ. Qua đó, những chân lý có thêm cơ hội để kiếm chứng. Tuy nhiên, hãy bình tâm lại xem, vào lúc này, những cơn bão ấy đã cuốn chúng ta về đâu? Mặt tiêu cực của khẩu vị về những cái mới lạ mang đến cho chúng ta nhiều hơn sự trống trải, chán nản trong cơn ham muốn thay đổi bằng bất cứ giá nào.

Từ việc nhận thức cái Tôi để tìm ra cái chân thật sâu thẳm bên trong, ta ngày càng xa rời nó trong tâm trạng lừa phỉnh về một cái Tôi vượt trội hơn. Có những tâm hồn còn đánh rơi mất bản ngã của mình trên con đường chinh phục cái mới. Niềm khát khao cái mới mọc lên từ sự quyến rũ của những điều phù phiếm.

Bằng việc nhìn lại một cách thiển cận, thô lỗ về quá khứ, ta cho rằng, mình đang hạnh phúc hơn con người của thời kỳ đầu. Và rằng, trong chiều kích của thời gian, càng về sau, xã hội càng tiến bộ và con người ngày càng có nhiều thứ hơn, sung túc hơn, hạnh phúc hơn. Trên bình diện thời gian, người ta buông lời dè bỉu và chế nhạo những gì thuộc về quá khứ. Những giá trị xưa cũ đã bị lãng quên.

Cá nhân muốn thể hiện mình độc đáo bằng bất kỳ giá nào. Đó dường như là cách để đảm bảo cho sự thành công. Trong mối tương quan với các cá nhân khác, con người luôn phải tìm ra một điểm “khác người”. Và phần lớn, cái khác người ấy đã đẩy con người lìa xa bản ngã. Cái khát vọng không “đụng hàng” cuốn chúng ta ngày càng xa cái chân tính của mình. Và rồi, những thứ tưởng chừng như đem lại cho ta hạnh phúc lại chẳng gắn liền mấy với cái “nhu cầu” thực sự. Rồi đến một độ, ta cảm thấu chán ngán với những thứ phù phiếm ấy. Rồi nhìn vào bên trong ta, thấy một khoảng trống vô cùng vô tận, không thể lấp đầy.

Và rồi ta đặt ra cho mình một câu hỏi: Cái mà ta gọi là Tiến bộ thực sự là phát triển hơn trong chiều kích của thời gian, hay chỉ là cái mới lạ đầy huyễn hoặc?

Thinh Ker

Posted in Sưu tầm | Leave a comment

Lỗi tại Đức Phật?

Cuộc đời này, chẳng cần phải đặt chân vào ngôi đền Phật giáo, hay theo đuổi những triết thuyết cao siêu mới hiểu được rằng: Nguồn gốc của những khổ đau được gây ra bởi những suy nghĩ thiếu đúng đắn. Những ý thức sai lầm dẫn tới những hành động tiêu cực có rất nhiều tên gọi, và nhà Phật đặt tên cho nó là Vô Minh mà thôi.

Trong quá trình giao tiếp với các tôn giáo khác, có rất nhiều câu hỏi được đặt ra cho Phật Giáo, kiểu như:

– Với vấn đề chiến tranh, xung đột sắc tộc, liệu Phật giáo có giải quyết được không? Liệu rằng, Phật giáo có thể chấm dứt những cuộc xung đột ấy? Liệu Phật giáo có khiến con người no ấm hơn không? Trong công cuộc đưa con người lên mặt trăng, Phật giáo đóng góp những gì?

Nếu thực sự, với một mức độ hiểu biết nào đó về Phật giáo, hẳn sẽ hiểu được những câu hỏi ấy làm oan cho Phật.

Nguồn cơn của những xung đột giữa người với người là do những cái Tôi được nuôi dưỡng quá lớn, đến một ngày, chúng va chạm với nhau và vượt ra ngoài tầm kiểm soát.

Nguồn gốc của “đói nghèo” là do sự chậm phát triển của một nền kinh tế được so sánh trong mối tương quan với các nền kinh tế khác. Không thể bảo Việt Nam đang có nền kinh tế kém phát triển khi so sánh với Việt Nam của những năm 1945. Đó là trong mối tương quan so sánh với các nền kinh tế còn lại, cụ thể là Mỹ và Phương Tây.

Câu chuyện lên mặt trăng là vấn đề của khoa học kỹ thuật, được xây dựng trên một nền tảng duy lý và thấm được tinh thần khoa học. Có một lần, anh bạn tôi bảo: “Nếu cứ mở mồm ra nói “Vô Thường”, thì làm sao chúng ta phóng được vệ tinh lên sao chổi?”. Chưa cần bàn sâu vào 2 chữ “Vô thường”, nhưng rõ thấy, luận điểm phản bác Phật giáo thường gắn sự “giải thoát” với những vấn đề còn lại của đời sống này.

Trên một khía cạnh nào đó, không có Vô Minh thì cũng chẳng có Niết Bàn. Nghĩa là, khi con người thực sự phát triển cái Tôi đến một ngưỡng nào đó, đủ để người đó nhận thấy cái Tôi ấy khiến cho mình gặp những vấn đề gây ra sự khổ đau. Khi ấy, người ta mới có một nhu cầu đặt ra câu hỏi: Liệu cái Tôi ấy có phải là nguồn cơn gây ra mọi sự hay không?

Xã hội loài người khi đã trải qua được những cung bậc của sự “sung sướng”, được mang lại bởi những yếu tố bên ngoài, và bắt đầu chạm tới những nhu cầu của đời sống nội tâm. Khi ấy, họ mới bắt đầu đi tìm hiểu những phương pháp quán chiếu vào bên trong mình.

Đức Phật được sinh ra như một người bình thường. Được thụ hưởng những điều kiện sống, thậm chí là cao hơn so với những người khác. Và trong một đời sống đầy những vinh hoa, Ngài bắt đầu đi tìm những ý nghĩa lớn lao hơn của kiếp nhân sinh.

Và như thế, nguyên nhân của những vấn đề trên đâu phải là lỗi của Phật giáo. Đạo Phật đâu phải là nguồn cơn của những khổ đau đó. Đức Phật đâu phải là người mang đến nỗi bất hạnh cho chúng sanh.

Mà là, khi chúng sanh sống trong khổ đau, lầm lạc mà những điều kiện bên ngoài không thể là những phương thuốc công hiều để chữa lành, thì đạo Phật xuất hiện với tư cách như là một phương pháp mới. Người ta có thể dùng, có thể lành bệnh và có thể không.

Thinh Ker

Posted in Phiếm đàm | Leave a comment

Khởi niệm

Niệm (suy nghĩ) xuất hiện, thông qua ngũ quan, khi tiếp nhận những kích thích từ môi trường bên ngoài. Như trong Kinh sách vẫn nói, khi một niệm khởi lên thì “ngàn lớp cửa khóa, khóa không được; muôn sợi dây cột, cột chẳng xong”. Nghĩa là, khi một suy nghĩ trong đầu hình thành, con người không thể kìm hãm hay tiêu diệt được nó.

Ngay cả khi con người không chủ động tiếp nhận thông tin, thì những nhân tố vẫn tác động vào hệ thống giác quan, và não bộ vẫn thu nhận những thông tin đó và lưu trữ ở những “vùng” mà cá nhân không cảm thấy sự tồn tại. Phần thông tin đó được lưu vào, và là dữ liệu đầu vào cho những hành động mang tính vô thức.

Trong thực tế, những suy nghĩ xấu thường gây ra những cơn sóng lớn hơn những suy nghĩ mang tính thiện, hoặc “trung tính”. “Trung tính” được hiểu là những tác nhân không gây cho con người nhiều xúc cảm. Vậy tại sao, suy nghĩ Thiện lại tạo ra những cơn sóng cảm xúc lớn bằng suy nghĩ mang tính Ác?

Thực tế, con người luôn mong muốn được hạnh phúc hơn là phải nhận những cảm giác tiêu cực hay đau khổ. Nghĩa là, nhu cầu hạnh phúc luôn cao, không bao giờ là đủ. Sự thăng hoa được mang lại bởi sự thỏa mãn sẽ nhanh chóng đi qua (đúng như nghĩa của từ thăng hoa). Và con người lại mong muốn một điều gì đó hạnh phúc hơn, chí ít là bằng về mức độ so với những gì vừa trải qua. Chẳng thế, mà người ta vẫn nói: “Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang” là như vậy.

Con người luôn tìm cách lảng tránh nỗi buồn. Thậm chí, họ cố gắng tiêu xài thời gian của mình hết mức có thể để không còn lúc cho nỗi buồn chen chân vào cuộc sống thường nhật. Một điều gì đó, thậm chí, chỉ ở mức độ không khiến ta thỏa mãn đôi chút cũng có thể là điều thảm họa với nhiều người. Theo cách diễn giải như thế, một “lượng nhỏ” sự tiêu cực cũng có thể gây ra sự bất hạnh cho chúng ta.

Được ví như cơn sóng, một suy nghĩ tiêu cực chính là nguồn sóng. Bằng tất cả sự căm ghét nỗi buồn, những ý niệm tiêu cực cứ thế nối tiếp nhau sinh khởi. Ví dụ, khi ta ghét một ai đó, dù anh ta chỉ có một cái nhìn thiếu thiện cảm, thế là hàng loạt những câu hỏi sinh ra trong tâm trí ta: Hắn ta giàu hơn mình nên khinh mình, hắn ta thành đạt hơn mình nên coi thường mình, hắn ta được hưởng lương cao hơn mình có 500 ngàn mà vênh váo thế…..

Có một câu chuyện mà phương Tây vẫn hay dẫn giải. Đó là việc con người luôn cảm thấy bất hạnh hơn người khác, dù rằng mình vẫn hơn rất nhiều người. Ví như: Một người được hưởng lương 10 triệu một tháng, trong khi mặt bằng chung là 5 triệu. Nhưng anh ta vẫn cảm thấy buồn khi người hàng xóm có thu nhập 11 triệu. Cái suy nghĩ, “trông lên thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống chẳng ai bằng mình” không phải dễ gì mà lúc nào cũng được xem xét thấu đáo.

Và bởi, chúng ta chẳng thể nào dứt được niệm, và rằng, những suy nghĩ tiêu cực luôn sẵn sàng đổ về như cơn lũ tràn ngập tâm hồn ta, nên việc có những suy nghĩ đúng đắn, tích cực luôn là điều cần thiết. Cần thiết để tránh khổ đau và được sống trong niềm hạnh phúc.

Hạnh phúc ở đây không chỉ là những cảm xúc có vẻ ngoài “tích cực”, được hình thành bởi những suy nghĩ tích cực. Đó mới là lớp ngoài của một niềm hạnh phúc lớn lao hơn – hạnh phúc khi nắm được những quy luật vận động của nhân quả. Rằng, niềm vui hay nỗi buồn đều có nguyên nhân của nó. Bởi chẳng có quả nào được sinh ra từ cái “không”.

Những quan điểm tích cực, nếu ta không hiểu thấu rõ, rất dễ bị tác động bới các yếu tố bên ngoài. Ví dụ, khi ta mới mua được cái xe ô tô, ta vui vẻ. Nhưng khi ta không thấu hiểu được toàn bộ những điều kiện và hoàn cảnh sống của mình, thì chỉ một cái bĩu môi của anh chàng đi xe đẹp hơn sẽ khiến ta chán ghét cái xe vừa mới mua. Điều ta cần là phải biết “bằng lòng” với cái hiện tại trong sự nắm rõ điều kiện riêng và nhu cầu của chính mình.

Thinh Ker

Posted in Phiếm đàm | Leave a comment

Bản năng bị lãng quên?

Không cần phải hiểu quá sâu rộng, chẳng cần phải nắm bắt đến môn Khoa học về não bộ, người ta vẫn có thể biết, kiến thức chúng ta thu nhận được đến từ thế giới bên ngoài thông qua quá trình tư duy.

Khi tiếp xúc với môi trường, toàn bộ hệ thống giác quan sẽ thu nhận những tác nhân, rồi xử lý để trả cho ta những kết quả. Kết quả ấy tồn tại dưới cái tên gọi là “kinh nghiệm”. Những kinh nghiệm có thể tồn tại dưới dạng đơn lẻ, hoặc cũng có thể được tổng hợp và phân tích, đưa vào trong một hệ thống nào đó, và được gọi là tri thức.

Nếu theo cách nói như trên, kinh nghiệm chưa được xem là tri thức, nếu chúng chưa thông quan một quá trình xử lý nào đó. Quá trình xử lý này chưa cần phải xem xét đến tính đúng đắn của kết quả. Nếu kết quả tốt, thì con người sẽ thu nhận được những kết quả hợp lý, đảm bảo cho sự phát triển của cá nhân. Nếu kết quả xấu, thì đó là những tri thức không tốt. Tri thức là tri thức, nó không tốt và cũng chẳng xấu. Cái nào được “nhận định” là phù hợp thì tiếp tục được lưu giữ và phát triển lên.

Việc ra quyết định của con người, thường được dựa trên kinh nghiệm. Nghĩa là, đối diện với một tình huống cụ thể, não bộ xử lý và đưa ra hàng loạt các lựa chọn. Quyết định được đưa ra dựa trên một lựa chọn nào đó. Thường lựa chọn này được đưa ra dựa trên sự so sánh để tìm ra được một phương án “tối ưu”. Cái “tối ưu” này có thể tồn tại dưới 2 dạng: quyết định bởi ý chí và quyết định không bởi ý chí (hoặc ý chí không đè được những cảm xúc).

Những tập quán có thể giúp con người đưa ra những quyết định nhanh chóng, bởi nó tạo dựng cho ta những thói quen có điều kiện. Tuy thế, một câu hỏi đặt ra là: trong những hoàn cảnh con người chưa có kinh nghiệm, cái gì điều khiển hành vi của ta?

Chúng ta tự hào là con người đã thoát ra khỏi “con người hoang dã”, nghĩa là con người có ý thức (xã hội). Thế nhưng, nhiều luận điểm chỉ ra rằng, những suy nghĩ có ý thức của chúng ta mới chỉ chiếm có 10%, và chúng ta sống với 90% vô thức.

Xem ra, điều này hẳn không phải là hoàn toàn sai. Bởi hàng ngày, chúng ta tiếp xúc với rất nhiều các tác nhân đến từ bên ngoài. Và không phải tác nhân nào cũng được ghi nhận một cách có ý thức. Ví dụ: Khi đàn ông nhìn một người đàn bà, thường họ chú ý đến 3 vòng. Nhưng không thể nói rằng, người đàn ông không ghi nhận những đặc điểm khác từ người đàn bà đó.

Hãy xem xét một câu chuyện khác liên quan đến giấc mơ. Nếu xem giấc mơ là việc tái hiện những hình ảnh được lưu giữ trên não bộ, thì những giấc mơ kỳ lạ được giải mã thế nào. Hẳn sẽ không ít người đồng tình rằng, những chất liệu của giấc mơ đã có tự lúc nào đó, mà chúng ta không nhận ra chúng. Ta đã đi trên một cánh đồng, hay xem trên tivi những bầu trời cao rộng, hoặc giả những trang sách miêu tả một con quái vật nào đó đã mang đến những chất liệu cho những giấc mơ kỳ lạ ấy.

Quay lại vấn đề ra quyết định. Khi đối diện với những tình huống “đặ biệt”, thì cái gì hỗ trợ cho quá trình hành động của con người. Câu trả lời nằm ở “bản năng”.

Cái bản năng ấy đã giúp con người hoàn thiện và phát triển như đến ngày nay – Bản năng sinh tồn. tại sao, khi thoạt nhìn thấy một người chết đuổi, nhiều người không cần suy nghĩ nhiều đã nhảy xuống cứu, thậm chí người đó bơi còn không giỏi. Đó chính là những cái được quy định sẵn trong hệ thống phản ứng của con người – tương trợ và cứu đồng loại. Điều này chẳng khác gì hình ảnh những con voi quây lại để cứu voi con ra khỏi vũng lầy. Hay những con cá sấu bảo vệ ngay cả những con không phải là con mình vượt qua những vùng nước hạn để ra sông (Dù cá sấu đôi khi ăn thịt cả đồng loại).

Những phản ứng mang tính bản năng đã bị xem nhẹ khi con người đề cao tính tối thượng của ý chí; hoặc đôi khi để sổng cái bản năng khiến cho họ bị sa vào vũng lầy của xúc cảm mang đầy dục tính.

Và cái ta cần là một quá trình soi chiếu và nắm rõ sự tồn tại, hoạt động và cơ chế của cả 2 phần: ý thức và vô thức, để có thể làm chủ được quá trình mà các quyết định được đưa ra.

Thinh Ker

Posted in Phiếm đàm | Leave a comment

Cái ngã và Hạnh phúc

1. Cái ngã (cái tôi) không thể tự thân nó hiện tồn. Cái Tôi là tập hợp những quan điểm (mà người ta cho là) căn bản, nghĩa là những quan niệm cơ bản làm nên tính cách của mỗi cá nhân.

Những quan điểm ấy được tạo lập khi con người đứng đối diện với từng vấn đề. Nghĩa là, những suy nghĩ không thể tự nhiên mà sinh ra, phải dựa vào cảnh để có. Người chiêm nghiệm càng nhiều, tạo dựng cho mình những quan niệm riêng thì cái Tôi càng lớn. Nó sinh ra một cách tất yếu và tự nhiên, khi ngũ quan của con người tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chúng ta không thể nghĩ rằng, cái Tôi có thể bị tiêu diệt hay bị lãng quên. Trong những hoàn cảnh nào đó, chúng tạm thời bị che khuất bởi những suy nghĩ khác che khuất.

Tỉ như, khi đối mặt với chuyện công việc, ta thường nói rằng: “Tôi cho rằng…..”; trong câu chuyện hôn nhân, người ta nói “tôi nghĩ là…..”….. Tập hợp những câu nói đó làm nên hình ảnh của một cá nhân trong mối tương quan về suy nghĩ với môi trường xung quanh. Cái Tôi là khác biệt. Sự khác biệt càng lớn, khi con người bắt đầu diễn giải càng nhiều những quan niệm của cá nhân về thế giới.

Cái Ngã của Tây phương lớn, bởi quan điểm chủ yếu của họ là Nhị nguyên (Chủ thế- Khách thể). Khi đã tách ra như thế, người ta xem xét sự tồn tại của mỗi cá nhân dựa trên mỗi tương thuộc Chủ thể-Khách thể ấy. Phương Đông dường như ở một dạng thức khác biệt với tinh thần minh triết. Cái quan hệ Chủ-Khách có khoảng cách hẹp hơn khi mỗi cá nhân xét rằng, mình xét đoán thế giới nhưng vẫn nằm trong một tổng thể hài hòa, bao trùm cả mối quan hệ nhị nguyên ấy.

2. Cái Tôi luôn là khác biệt. Bởi nếu nó không khác biệt đến thế, người ta đâu gọi nó là cái Tôi. Khi bắt đầu có sự kết hợp từ hai cá thể trở lên, sự xung đột bắt đầu xuất hiện. Cái Tôi càng lớn thì các cá nhân càng đẩy nhau ra xa.

Như đã nói, cái Tôi không thể mất đi, nên con người không thể hy vọng xóa bỏ nó (như người ta vẫn nói: Dẹp cái Tôi sang một bên). Cái Tôi luôn hiện tồn trong mối tương thuộc giữa ý thức của con người với môi trường sống.

Để trở nên hạnh phúc hơn, theo cách hiểu là bớt sự xung đột với môi trường xung quanh. Bởi những xung đột là nguồn gốc của khổ đau. Ta có thể cho rằng, trong cuộc chiến, ta dành phần thắng và kẻ khác thua. Nhưng chẳng có cuộc cách mạng nào mà không có máu, chẳng có chiến thắng nào mà không có tổn thất. Cuộc sống này luôn được vận hành theo một cơ chế bảo toàn nào đó.

Muốn được hạnh phúc, con người cần phải si sinh. Ví như, quan điểm của Rousseau về Khế ước xã hội, con người phải hi sinh một phần hạnh phúc cá nhân. Nhưng thực ra, chẳng có gì để phải hi sinh cả. Cái chúng ta có thể đem ra để hi sinh, thực ra, chẳng còn có giá trị với chúng ta nữa. Bởi nó không còn đáng giá để đứng trong tập hợp những cái để làm nên cái Tôi nữa. Chẳng qua, ta tự huyễn hoặc mình, để có cảm giác phần thưởng ta dành được là xứng đáng. Cái có thể đem ra để “trao đổi” đã mất đi ngay từ phút giây ta quyết định đem ra để trao đổi.

Mỗi cá thể như là một mắt xích trong cơ cấu. Cái phần bánh răng khớp với các bánh răng còn lại, vừa thuộc “ta”, nhưng cũng thuộc một phần trong tổng thế của bộ máy. Một cái bánh răng nằm riêng, nó không phải là bộ máy mà chỉ là một cái bánh răng nằm trơ trọi và không “hữu dụng”.

3. Thế nên, việc nhận thức cái Tôi luôn là một vấn đề quan trọng. Nó là bước khởi đầu để mỗi chúng ta có thể biết, mình có gì trong mối quan hệ vơi đời sống này. Muốn thấy nó, ta phải ném mình vào trong hoàn cảnh để nó hiện hữu. Hoàn cảnh ấy chính là môi trường sống của chúng ta, tất nhiên là có sự tương tác với xung quanh. Như là, muốn biết một chất là axit hay ba-giơ, ta phải dùng quỳ tím để nhận biết.

Nhận biết nó thôi chưa đủ. Chúng ta cũng cần phải thấy rõ cái quy luật vận hành chung của cái môi trường ấy. Nhận biết được cơ cấu là điều kiện để ta thấy, mình có thể kết hợp với các bộ phận của cỗ máy ấy như thế nào.

Sự hi sinh (cho đi) để hạnh phúc hơn không phải là quá trình tiêu diệt cái Tôi, hay lãng quên nó; mà là sự nhận thức đầy đủ nó, để đảm bảo sự vận hành của một cỗ máy tuân theo quy luật.

Thinh Ker

Posted in Phiếm đàm | Leave a comment

Ý thức và vô thức

Chuyện kể rằng, ở vùng Tây Tạng có một người thợ săn. Ở xứ sở của những nhà tu hành Mật tông, một người thợ săn vẫn thường bị coi như là kẻ cướp và không có tâm thiện. Một ngày, người thợ săn, như thường lệ vào trong núi đi săn. Ông nhìn thấy một con nai bên triền núi, và bèn giương cung lên bắn. Con nai bị thương chạy sâu vào trong núi, và ông liền đuổi theo con mồi. Theo được một quãng, ông tiếp cận được con nai, và ông nhận ra đây là một con nai đang có chửa. Nó bị thương, nằm trên đất và đang cố gắng tận dụng những hơi thở mệt nhọc để giúp nai con ra đời. Người thợ săn đã chứng kiến toàn bộ quá trình của nai mẹ gắng sức đẻ đứa con của mình, trong khi trên mình vẫn mang vết thương nặng. Ông thực sự cảm thấy chấn động với việc nai mẹ dốc toàn sức để cứu đứa con trước khi chết. Đột nhiên, ông buông vũ khí và quay trở về. Ngày hôm sau, ông từ bỏ nghề săn bắn và tìm đến một nhà sư để đi theo tu đạo.

Quá trình hình thành tư duy của con người thường bắt đầu với kinh nghiệm có được thông qua ngũ quan. Những gì ta có, được cho rằng, không thể tách khỏi đối tượng nhận thức. Nghĩa là, khi chưa từng tiếp cận với cái bánh, thì anh ta không hề có ý niệm nào về cái bánh ấy. Nhiều nhà triết học đi xa hơn, cho rằng con người chỉ là một cỗ máy, với phần tinh thần là sự tập hợp rời rạc những nhận thức có được thông qua các giác quan.

Hay như ngày nay, với sự phát triển của khoa học thần kinh, nhiều người cho rằng, tư duy của con người là sự hoạt động của các nơ ron thần kinh phản ứng với các hiện tượng từ bên ngoài. Nghĩa là, khi nhận được một phản ứng từ môi trường bên ngoài, mạng lưới nơ ron thần kinh hoạt động, các phản ứng hóa học và điện sinh được sinh ra, trả lại cho ta cái gọi là “tư duy”.

Nếu như thế, người thợ săn ở trên kia làm sao có thể, trong phút giây bất ngờ, lại có thể thấu hiểu một cách sâu sắc điều gì đó, để đưa ra một quyết định bất ngờ đến thế? Bởi trong một quá trình trước đó rất dài, người ấy thường chỉ tiếp xúc với những cảm giác chết chóc. Cái phần kinh nghiệm về sự tàn bạo rõ ràng lớn hơn rất nhiều so với cái liên quan đến tính Thiện (mà trải nghiệm đó vừa mới xảy đến với anh ta).

Những cơ chế, phản ứng không thể bất chợt được hình thành một cách hoàn chỉnh. Chúng cần phải được tạo khởi, rồi phát triển thì mới có thể hoạt động tốt. Vây thì điều gì khiến cho người thợ săn lại có những trải nghiệm sâu sắc trong khoảng thời gian ngắn đến thế, và đưa ra quyết định mang tính lớn lao trong cuộc đời mình?

Nếu được suy diễn, ta có thể nghĩ rằng, những trải nghiệm mang tính chết chóc, bên cạnh việc là “đầu vào” cho sự hoạt động của Tính Ác, nó cũng là dữ liệu của một quá trình khác. Đó là một quá trình đặt câu hỏi về việc: Con người đang làm một điều gì đó không tốt với môi trường xung quanh. Cái quá trình này, nếu xảy ra, thì nó đang cư ngụ trong phần vô thức, mà con người không nhận ra, do một nguyên nhân nào đó. Đến khi bắt gặp một tác nhân thuận lợi, nó được “bung ra”.

Như là, con người vẫn luôn nghĩ tới việc Tốt, việc Thiện; nhưng vào lúc nào đó, người ta vẫn hành động sai trái một cách “vô thức”. Nghĩa rằng, những thông số trải nghiệm là đầu vào cho cả hai quá trình để tạo ra Tính Thiện và Tính Ác. Cái nào ta nhận thức được, thì cho rằng nó tồn tại. Còn những thứ ta cho rằng mình không có, biết đâu nó vẫn được sinh ra và tồn tại tiềm tàng dưới dạng thức nào đó.

Cơ chế tư duy của con người không giản đơn như là một cỗ máy thuần cơ lý, như một chiếc máy tính mà ta đang ham muốn mô phỏng, để tạo ra cái gọi là “trí tuệ nhân tạo”. Một chiếc máy tính mạnh đến mấy, xét đến cùng không thể vượt qua được giới hạn của chính kẻ tạo ra nó.

Để hiểu chính bản thân mình luôn khó. “Kẻ thù lớn nhất của đời người chính là bản thân mình”, bởi ta hầu như không thể nắm bắt được tuyệt đối những sản phẩm được tạo ra bởi tư duy của chính ta. Chỉ có thể bằng cách, quán chiếu sâu vào nội tâm mình, thì mới có thể nhận biết rõ cơ chế hoạt động của tư duy. Để nhận rõ những điều đang diễn ra trong cõi “vô thức” mà chúng ta đang lãng quên, để chạy theo đời sống của cái “có ý thức”.

Thinh Ker

Posted in Phiếm đàm | Leave a comment

Những cơn đau và Paracetamol

Nói đến cuộc đời là nói đến những khổ đau. Và với đa phần chúng ta, nỗi buồn hay sự đau khổ có lẽ nhiều hơn niềm vui hay hạnh phúc. Cổ nhân có câu: “Niềm vui ngắn chẳng tày gang”, trong khi nỗi buồn thì thường dài tưởng như vô hạn, gặm nhấm tâm can con người. Hay ở câu “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Phúc thì thường đến mà ít khi lặp lại, còn tai họa khi đến thường liên tiếp, đẩy con người vào những hoàn cảnh bất hạnh.

Học sinh thường hay hỏi: – Thưa thầy, niềm vui khác hạnh phúc ở điểm gì?

Thường câu trả lời là: Nhiều niềm vui nhỏ tích tụ thì sẽ có hạnh phúc. Một cuộc sống hạnh phúc là khi có nhiều niềm vui. Mà niềm vui ấy phải xuất hiện với một tần suất đủ để “tích tụ” thành một hạnh phúc nho nhỏ. Nếu những niềm vui tản mát, bị xóa nhòa bởi nỗi buồn, thì thật khó để tạo nên niềm hạnh phúc.

Niềm vui thường gắn liền với sự khác lạ/mới lạ. Cái gì đó ngon đôi khi hay gắn bởi sự tươi mới. Nếu cứ ăn đi ăn lại một món ăn thì khó có thể cảm thấy ngon. Vì thế, mà tâm con người luôn cứ mải miết chạy theo, tìm cầu những điều mới lạ, muốn vượt qua những giới hạn để lao theo những cơn cuồng si. Khó có thể nói, niềm vui bao nhiêu là đủ, hay thế nào là hạnh phúc viên mãn. Hẳn chừng nào con người thực hiện được câu của cổ nhân “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, thì lúc đó mới chịu dừng lại.

Và ở đâu đó, người trong Phật giáo thường quan niệm, hạnh phúc là bớt đi sự khổ đau. Hạnh phúc đôi khi khó kiếm tìm, bởi ta nhiều khi có nó, nhưng lại không nhận ra và cầu tìm bên ngoài. Thế nên, bằng cách bớt đi những sầu muộn, ta dần sẽ nhận ra được cái chân hạnh phúc ẩn chứa đâu đó trong sâu thẳm nội tâm ta.

Muốn làm được điều đó, con người cần thực hành một đời sống nội tâm, đi tìm cái chân thật trong mỗi cá nhân. Những nỗi đau buồn, thực ra, vẫn được làm nguôi lạnh bằng những liều thuốc giảm đau (chứa Paracetamol) mang tính tức thời. Con người lao vào dục vọng, những cuộc chơi thâu đêm, những chất kích thích để đi tìm một thế giới khác (chứa đựng những ảo giác”. Mỗi khi rời xa thế giới đó, nỗi buồn lại quay về dường như nguyên vẹn, đôi khi lại lớn hơn trước.

Khi lạc vào mê cung, muốn thoát ra, ta không thể nhắm mắt mà bước đi. Trịnh Công Sơn có viết: “Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy”. Nếu ta cứ mãi chỉ chạy trên vòng tròn mà không thể thoát ra, thì cuộc đời luôn sống trong những vòng lặp đầy đơn điệu. Không thể vượt qua nỗi buồn nếu ta không nắm bắt được nguyên nhân của nó. Thử tưởng tượng, nếu muốn gỡ một nút thắt mà không bình tĩnh tìm rõ cấu tạo của nó, ta sẽ chẳng bao giờ có cơ hội gỡ ra được.

Cuộc sống nếu đơn giản chỉ là những cơn mơ, người ta chẳng cần phải dành quá nhiều thời gian để quán chiếu và đủ kiên trì để tìm ra lối đi. Cuộc đời là một cuốn tiểu thuyết, có cốt chuyện, những chương hồi và cần một bàn tay đạo diễn để tìm ra lối thoát cho các nhân vật. Nhưng hẳn cũng chẳng thể dài như chuyện ngàn lẻ một đêm, kiểu con chim sẻ bay vào kho nhặt một hạt thóc, rồi bay ra hay bay vào.

Những cơn đau cần phải được làm lành khi đã rõ nguyên nhân của bệnh, chứ không thể chỉ làm dịu đi bằng những liều giảm đau có chứa chất Paracetamol.

Thinh Ker

Posted in Phiếm đàm | Leave a comment

Bài phát biểu của em Severn Suzuki tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janeiro

Xin chào, cháu là Severn Suzuki, đại diện cho Tổ chức Môi trường của trẻ em (ECO). Thành viên của nhóm chúng cháu đều mười hai hoặc mười ba tuổi, cùng đang nỗ lực vì một cuộc sống khác. Nhóm bao gồm Vanessa Suttie, Morgan Geisler, Michell Quigg và cháu. Chúng cháu đã quyên tiền để có thể vượt qua 8000km đến đây và nói với người lớn rằng, các cô chú phải thay đổi.

Hôm nay cháu đến đây không giấu giếm chương trình hành động của mình. Cháu đang đấu tranh cho tương lai của bản thân. Mất đi tương lai sẽ không giống như thất bạo trong cuộc bầu cử hay thị trường chứng khoán mất vài điểm. Cháu đến đây để cất lên tiếng nói đại diện cho tất cả các thế hệ mai sau. Cháu đến đây để cất lên tiếng nói đại diện cho những trẻ em đang đói kém trên khắp thế giới nhưng không ai nghe thấy các em đang kêu khóc. Cháu đến đây để cất tiếng nói đại diện cho vô số các loài động vật trên hành tinh vì không có nơi sinh sống. Cháu sợ ra ngoài ánh sáng mặt trời vì những lỗ thủng trên tầng ozon. Cháu sợ hít thở không khí vì cháu không biết có hóa chất gì trong đó.

Mới chỉ vài năm trước, cháu vẫn đi câu cá với bố ở quê là Vancouver, còn giờ đây cháu thấy lũ cá đều bị bệnh. Và giờ đây mỗi ngày chúng cháu đều nghe tin có các loài động thực vật bị tuyệt chủng – chúng sẽ vĩnh viễn bị biến mất. Cháu luôn mơ ước sẽ được ngắm thật nhiều động vật hoang dã, những khu rừng nhiệt đới và rừng mưa đầy chim và bướm. Nhưng cháu băn khoăn không biết liệu đến thời con cái chúng cháu, các loài sinh vật này còn tồn tại hay không.

Khi ở tuổi bọn cháu, các cô chú có phải lo lắng như thế không? Tất cả những chuyện này đang diễn ra trước mắt chúng cháu, nhưng mọi người vẫn làm như thế chúng ta có đủ thời gian cần thiết cũng như mọi giải pháp. Cháu  chỉ là một đứa trẻ không biết hết mọi giải pháp, nhưng cháu muốn các cô chú hiểu rằng các cô chú cũng thế….Các cô chú không hề biết làm sao để các dòng sông chết có cá hồi trở lại. Và các cô chú không thể trả lại những cánh rừng ở nơi giờ là sa mạc. Nếu các cô chú không biết cách khắc phục hậu quả thì xin đừng phá hoại thêm nữa…

Ở trường học, thậm chí ở cả trường mẫu giáo, các cô chú luôn dạy chúng cháu cách cư xử trong thế giới này. Các cô chú dạy chúng cháu không được đánh nhau, phải tìm cách giải quyết mọi vấn đề, phải tôn trọng lẫn nhau, phải dọn dẹp sạch sẽ, không làm tổn thương các sinh vật khác, phải biết chia sẻ chứ không nên tham lam. Vậy thì tại sao các cô chú lại làm ngược lại?

Xin đừng quên tại sao các cô chú lại tham gia hội nghị như thế này, các cô chú làm việc đó vì ai. Chúng cháu chính là con cái của các cô chú. Các cô chú là người quyết định chúng cháu sẽ lớn lên trong một thế giới như thế nào. Các vị phụ huynh phải là người có thể an ủi con cái bằng câu: “mọi thứ rồi sẽ tốt đẹp”, “đây vẫn chưa phải là ngày tận thế”, và “chúng ta đang cố gắng hết sức”. Nhưng cháu không nghĩ rằng giờ đây các cô chú có thể nói những câu đó nữa. Không biết chúng cháu còn nằm trong danh sách được các cô chú ưu tiên không?

Bố cháu thường bảo rằng: “Những việc con làm mới quan trọng chứ không phải lời con nói”. Vâng, những gì các cô chú đang làm phải khiến cháu bật khóc mỗi đêm. Người lớn nói rằng họ yêu trẻ em nhưng cháu nghi ngờ điều đó. Xin hãy làm như lời cô chú vẫn nói. Cháu xin cảm ơn.

Posted in Sưu tầm | Leave a comment

Nghĩ về cái Ác

1.Kinh Thánh kể rằng, Chúa trời tạo ra người đàn ông, rồi tạo ra Vườn Địa đàng và để cho người đàn ông trông nom nó. Người đàn ông có thể ăn tất cả mọi loại cây trong vườn, trừ cây Nhận Thức Tốt và Xấu (Trái cấm). Và khi Adam cần người phụ giúp, không có loài vật nào chịu làm, Chúa đã tạo ra người đàn bà từ chiếc xương sườn của người đàn ông. Khải huyền 3 chú rằng, người Nam và Nữ đều khỏa thân và không cảm thấy hổ thẹn.

Cái Tốt và Xấu (hay Thiện và Ác) đã có từ đó. Nó có từ trước cả người đàn bà. Chỉ là người đàn ông không hề biết đến sự tồn tại của Thiện và Ác. Người đàn bà và đàn ông cùng khỏa thân nhưng không hổ thẹn, chắc bởi, trong tâm tưởng của họ chưa hề có những khái niệm liên quan tới Tính Dục (bởi người đàn ông đâ đã từng được thưởng thức Trái Cấm để xác nhận sự tồn tại của Nhận Thức?).

Và thế rồi, con rắn xuất hiện. Đó là loài “quỷ quyệt hơn mọi con thú trên cánh đồng.” Con rắn xúi giục người nữ ăn cây nhận thức, nói với cô ta rằng nó sẽ không dẫn tới cái chết; người nữ không kìm nổi, và đưa trái cho người nam, và người nam cũng ăn, “và mắt của hai người mở ra.” Khi ấy đã nhận thức được sự trần truồng của mình, họ che nó đi bằng những chiếc lá sung, và trốn khỏi cái nhìn của Chúa.

Chính cái Ác đã đưa con người đến với Nhận Thức. Bởi nếu con rắn không xuất hiện, thì hẳn người đàn bà (với sự nhẹ dạ của mình), đâu có phá vỡ những quy tắc mà Chúa trời đã tạo ra?!

2. Kể từ đó, những đứa trẻ được sinh ra. Xã hội loài người được hình thành nên từ đó. Chắc vì phải chịu những lao nhọc do để cái Ác xúi giục, nên con người mới căm ghét nó đến thế. Thế giới đã trải qua biết cao cuộc chiến tranh, diệt chủng cũng chỉ bới cái Ác. Con người cũng đã vượt qua, để rồi ngày hôm nay, người ta đề cao một thế giới hướng tới hòa bình và phát triển.

Con người đã săn lùng và tầm diệt cái Ác khiến nó phải trốn tránh, qua bao đời, dưới rất nhiều dạng thể. Để cái Ác không còn hiện hữu, con người đã tạo ra Nhà Đạo đức – những kẻ luôn tìm mọi cách đánh hơi sự hiện hữu của cái Ác, để băm chúng làm muôn mảnh, dìm xuống bể sâu nhằm giúp con người lánh xa khỏi những khổ đau và bất hạnh.

3. Có những lúc, tưởng như thế giới được thanh bình và con người sống trong những đêm thâu bất tận với khải hoàn ca không bao giờ dứt. Cái Thiện đã thắng thế, bao trùm rộng khắp trên trái đất. Ở đâu, người ta cũng đều thấy cái Thiện hiện rõ trong tâm thức của đồng loại.

Nhưng cái bản tính tò mò, và (hình như) luôn muốn vượt qua mọi giới hạn đã khiến cho cái căn tình Thiện hiện hữu trong mỗi cá thể bắt đầu ghanh đua hơn thiệt với nhau. Nhiều cái Thiện không thỏa mãn với sự thấp kém của mình so với xung quanh. Và rồi, những nhóm nhỏ bắt đầu vời tới cái Ác lẩn khuất trong bóng tối, như là một công cụ nhằm vươn tói những quyền lực, khẳng định vị thế.

Cái Ác nhận ra điều đó. Nó tìm mọi cách để gần gũi, kết hợp và ẩn sau những cái Thiện đang bắt đầu trên con đường của sự tha hóa. Nó tinh ranh hơn trong việc núp bóng dưới cái Thiện để có thể duy trì sự tồn tại của chính mình.

4. Con người sợ hãi cái Ác. Nhưng dường như, họ không hiểu được cùng như đủ dũng cảm để đối diện với cái Ác. Để nhận diện chúng không phải là một điều dễ dàng. Chúng “đi bằng bụng” (bò trườn) lẩn khuất trong khắp các hang cùng ngõ hẻm. Chúng tự tạo ra những màu sắc để ngụy trang trong từng hoàn cảnh nhất định. Khi là màu xanh của lá trong các khóm câu, khi là màu đen để ẩn mình trong lòng đất, khi là màu của cát để trườn bò trên sa mạc.

Cái Thiện đang tha hóa cũng che dấu chúng. Che giấu trong khát khao vươn tới quyền lực tối thượng trong xã hội loài người. Che dấu để có được vị trí Thiện- Nhất-Trong-Tất-Cả-Cái- Thiện.

4Thinh Ker

Posted in Phiếm đàm | Leave a comment